July 26, 2016

Lối Thu...Xưa !

 (Tự Truyện) 
Lê-Phi-Ô

Tiễn bước người xa tận cuối trời,
Từng chiều nhạt nắng sắc hương trôi.
Em đi ta dấu đôi dòng lệ,
Dấu cả hoa tình tan tác rơi ! - (LPO)
                      ----------

Sáng nay vừa nhận được bài thơ của Chị Uyên-thúy-Lâm từ Boston, Massachusett:

TÌM NHAU  (tặng Huynh Lê Phi Ô) 

Thời hoa niên yêu em không ngỏ,
Để bây giờ năm tháng tìm nhau.
Vẫn mơ ước vẫn hoài nhung nhớ,
Thu sang mùa vàng lá rơi mau.

Mắt môi ơi say lòng mật ngọt
Em diễm kiều, thương mấy cho vừa
Tôi vụng về lệ em rưng giọt
Ngu ngơ dại khờ tôi đứng trong mưa.

Tuổi vụng dại xa em từ đó,
Tàn chiến chinh khắc khoải mong tìm.
Phố cũ nhòa đèn đêm mờ tỏ,
Trăm hướng đời lạc dấu chân chim !

Người ra đi có còn vương vấn,
Đường muôn phương xa hút lối về.
Lòng hoang vu Sao mờ Nguyệt tận,
Em nhạt nhòa mấy nẻo sơn khê.

Đã qua bao Thu tàn Xuân thắm,
Vẫn thương mong phố quận trùng phùng.
Chân bước mỏi đường dài muôn dặm,
Sắt se lòng mây nước mông lung.

Thời gian trôi làm sao níu lại,
Bến bờ xưa lau lách lặng chìm.
Đã biết đi tìm: Sông chảy mãi,
Là không bao giờ gặp nữa, sao em ?! - UTL
       
     Bài thơ gợi trong tôi một cảm giác buồn man mác...đời tôi là cả một chuồi buồn dài bất tận. Hình như 
tôi đã cưu mang nỗi buồn nầy một lần trong đời !..Bây giờ thì, nhớ ra rồi, đã lâu lắm, của thời còn đi học...1959.
     Thành phố Vũng-Tàu về đêm, con đường chạy dài theo bãi trước vắng vẽ. Tôi với Ph. cùng vài bạn chung trường, đi men theo bãi cát dẫn đến Dinh Thượng vào một đêm Noel. Gió biển làm các cô kêu lạnh, Tôi cùng hai đứa kia đi nhặt lá Bàng khô...nổi lửa sưỡi ấm cho người mình yêu ! Chúng tôi ngồi bên nhau đến 2 giờ sáng, lặng thinh trong tiếng rì rào của sóng biển hòa lẫn tiếng vi vu của Thùy-Dương vọng về từ bãi trước...

     Tình yêu thuở học trò tuyệt đẹp, Gặp nhau, rồi đến với nhau tự nhiên như đã hẹn hò từ kiếp trước. Chưa một lần dám tỏ tình nhưng tôi hiểu Ph. cũng.....!  Con đường Trương-công-Định với hai hàng cây Sao rợp bóng chạy dài xuống tận bãi trước đưa hai đứa đến gần với gió, cát và sóng nước để nghe Trùng dương vọng tiếng thì thào lời yêu thương, để được hít thở hương thơm từ mái tóc người yêu mỗi lần gió thoảng. Đôi khi những cơn mưa rào bất chợt cầm châ
n hai đứa dưới mái hiên lạ...để được nghe hơi ấm từ em khi dựa vào tôi, để được nghe tim mình thổn thức theo tiếng mưa rơi...Rồi tay trong tay tôi dìu Ph. bước đi trên lối về nhà em loáng nước mưa đêm, trong cái se se lạnh của mù sương phủ đầy phố vắng !

     Rồi, thời gian qua mau...một đêm có nhiều tiếng gió rít vọng về từ đỉnh núi, phố biển quạnh hiu bao phủ và ướt sủng bởi cơn mưa nặng hạt. Một mình nép dưới mái hiên, nơi tôi và Ph. đã từng trú mưa, để nghe cô-đơn gặm nhấm từng vùng thịt da nhói buốt ! Cả hai chúng tôi đã âm thầm chia tay...!
     "Tôi không thể nói lý do tôi và Ph. xa nhau, bởi vì nó vô lý hết sức, vô lý đến độ tôi không tin là thật...và cũng không ai nghĩ rằng, tôi sẽ đứng một mình dưới mái hiên dài vắng lặng...trong cơn mưa đêm nay...!!!" (*khuyết danh).
 

     "Biệt ly ai chẳng ngậm ngùi,
      Thế nhân ai chẳng một thời tiễn đưa.
      Môi hồng còn thoáng hương xưa
      Mắt xanh đã nhỏ giọt mưa đầu đời" - TVS  

     Cuối năm học, tôi rời xa phố biển mang theo bao nhiêu kỷ-niệm đẹp pha lẫn ngậm-ngùi, xót xa cho cuộc tình...vừa đến, rồi đi ! Mình xa nhau thật rồi sao Em !
                                                              ------------------

     Mùa Thu
 năm 1962, trước khi bước chân vào quân ngũ, trong niềm hối tiếc và thương nhớ vô biên..! Tôi viết thư cho Ph. để xin em một lần tha thứ cho những vụng về đã làm em buồn và cũng đã vô tình giết chết Tình tôi !
     Vào Quân trường được một tháng...Tôi lại viết thư cho Ph. và, vài tuần sau tôi nhận được hồi âm. Chị Thúy Uyên có hình dung được nỗi mừng vui của tôi đến dường nào không ?! Đang lúc tập họp súng đạn để ra bãi tập lúc 6 giờ sáng, tôi nhận thư Ph., bức thư dày cộm...chắc là có nhiều hình bên trong. Cố nén nỗi xúc-động, tôi mở thư ra xem...đột nhiên như có một luồng điện cực mạnh chạy dọc theo xương sống và mắt gần như tối sầm lại. Tôi cố trấn tỉnh để nhìn cho rỏ,..."một tấm thiệp cưới" của Ph. !! Anh bạn đứng kế bên nói gì...tôi không nghe rỏ, và hình như có lệnh của sĩ-quan cán bộ gọi tôi ra khỏi hàng. Tôi nhét vội lá thư vào bụng, vị sĩ-quan cán bộ bảo sinh-viên tuần sự đại-đội gọi xe cứu thương, cho người tháo gở ba-lô, súng đạn của tôi và cho phép được ở nhà vì thấy tôi bị..."trúng gió" !
     Lồng trong thiệp cưới là một tấm hình phong cảnh Vũng-Tàu lúc hoàng-hôn, ngoài xa sóng nước mịt mờ với chiếc thuyền buồm lẻ loi, Ph. viết: "non nước bao la và đời người cũng chỉ thế thôi, mù mịt nhỉ...rồi con thuyền kia biết trôi dạt về đâu ?!" - Cuối thiệp cưới Ph. viết thêm: "Ph. lấy chồng...P.O có buồn lắm không ?!!!". Tôi biết chắc rằng, không có bất cứ ai trên đời này cảm nhận được nỗi buồn của tôi lúc đó !
                                                          -----------------

     Đầu năm 1964, tôi theo học khóa Căn-bản Tình-Báo tại trường Cây Mai (SaiGòn). Cuối khóa, trong một buổi thực tập, chúng tôi được bung ra khu vực đường Lê-Lợi để theo dõi "Các đối-tượng bị tình nghi" do nhân-viên nhà trường gỉa dạng. Tôi gặp Huề, chúng tôi rủ nhau vào Café Thanh-Bạch, Huề là bạn học cũ...bây giờ nó là Không-Quân tại Tân-sơn-Nhất. Tôi cũng đã cho nó xem hình của Ph. và tâm sự cho Huề nghe chuyện của tôi với Ph. kể cả chuyện chia tay nhau. Thằng Huề cũng kể cho tôi nghe chuyện nó mê ca-sĩ, cô nầy là em ruột của một anh bạn Không-Quân cùng đơn vị với nó (Cô ca-sĩ này hiện sống ở nam California).
     Bạn bè lâu ngày gặp nhau thao thao bất tuyệt đủ thứ chuyện. Thằng Huề đang nói bổng im bặt...theo hướng nhìn của nó, tôi bắt gặp hai chiếc áo dài vừa bước vào quán và đang tìm chổ ngồi. Có tiếng động của chiếc ghế sát phía sau lưng tôi...mùi nước hoa thoảng nhẹ trong không khí lẫn tiếng nói cười nho nhỏ của hai người con gái. Một chút bâng khuâng, một chút ấm áp...và một thoáng nhớ mênh mông...len nhẹ vào hồn người lính trẻ ! tôi như người mộng du đang ru hồn mình vào nơi xa xăm của miền gió cát, của tiếng Thùy-dương hoà tiếng sóng biển rì rào trong đêm vắng.
     Thằng Huề nói khẻ vào tai tôi: "Ê, P.O...tao thấy một cô hình như quen quen !", tôi từ từ xoay người lại kín đáo nhìn và như bị điện giật...thảng thốt gọi khẻ trong cuốn họng: -"Ph. ...!". Ph. như không nhận ra tôi, ánh mắt một thoáng ngờ ngợ rồi quay đi. Có lẽ Ph. không nhận ra thật vì căn phòng không đủ ánh sáng và, vì tôi lúc này mặc quân-phục, nước da vẫn còn đen sạm của nắng cháy quân trường. Một chút tự ái, một thoáng dỗi hờn, Ph. bây giờ đâu còn là của tôi, khuấy động để làm gì ! nỗi buồn bổng dưng ập đến trong tôi...lớn dần, lớn dần...! Tôi để tiền café lại trên bàn và cùng thằng bạn bước vội ra khỏi quán.
                                                                -----------
   
     Gần 60 năm
 rồi, ngồi viết những dòng này cho Chị cùng với nỗi đau ngày đó trở về...trọn vẹn trong tôi !  Và, cũng từ đó tôi yêu nhạc phẩm "Tà áo cưới" của Hoàng-thi-Thơ, gần đây "Khúc Thụy du" rồi kế tiếp là "Thu hát cho Người" và một khúc nhạc đệm đã góp phần giết chết tình tôi đó là bài thơ "Tìm nhau" của Uyên-thúy-Lâm !  

    - "
Đọc qua bài thơ "Tìm nhau" của tôi, Anh là người đầu tiên lên tiếng đáp từ. Đáp từ sớm nhất, và Anh đã cho ACE cùng Thúy 
Uyên nghe "Tiếng lòng khôn nguôi" của Anh và mối tình đầu dở dang mà trăm năm vẫn còn đẹp mãi nơi phố biển Vũng-Tàu. Vũng-Tàu của Anh và của Chị Ph. thân yêu ngày xưa xa lắm...Chúng ta đang tìm về vùng đất ngát hương kỷ-niệm của tuổi đôi mươi ngà ngọc biệt dạng lâu rồi. Nhớ quá quê nhà mờ xa bên kia bờ biển lớn !"  UTL.

Em đã xa tôi ngần ấy năm,
Đắng cay thành lệ giọt âm thầm !
Người đi để lại bao thương nhớ,
Lá đổ rơi đầy khoảng tối tăm !

Nhạt nhẽo tình xuân theo vọng khúc,

U buồn nắng hạ chẳng thanh âm !
Chừ đây góp nhặt từng dư ảnh,
Liệm kín tình
 đau trước lỡ lầm !  

(Cố Quên Một Lần Yêu - LPO)

     Thưa Chị Thúy 
Uyên, Ph. ly-dị chồng và sống một mình đã hơn 15 năm. Gần đây, Ph. qua California thăm người thân và với giọng thật buồn như pha nước mắt, Ph. mời tôi xuống thành phố S.A dự sinh-nhật bà Chị. Suốt đêm suy nghĩ, sau cùng tôi tìm một cớ để...từ chối. Tôi sợ khi gặp nhau, hình ảnh Ph. ngày xưa của tôi sẽ không còn nữa ! Tôi muốn mãi mãi được sống với kỷ-niệm đẹp và hình ảnh của những tháng ngày xưa cũ. Đúng ra là tôi đã...chạy trốn !, thời gian rồi sẽ phôi pha...nhưng không dễ như tôi tưởng. Những vần thơ qua lại trên diễn đàn cùng bạn hữu, và...vừa mới đây thôi "Tìm nhau" đã cho tôi sống lại trọn vẹn với hạnh-phúc lẫn niềm đau của "Những ngày xưa thân ái !".

     Chị đã đưa Vũng-Tàu vào thơ...hình ảnh mà trước ngày bỏ đi, một mình tôi trên bãi khuya chỉ có gió, cát và sóng biển dạt dào...để nghe buốt gía, cô đơn như cánh Hải-Âu lạc loài trong đêm vắng !

"Một mình trong thinh lặng,
Giữa màn đêm bao la.
Tiếc lòng mình trân quí,
Sao gió cát xóa nhòa !'   - UTL

Vâng, tôi sẽ "Cố quên một lần yêu"...thưa Chị Thúy 
Uyên !

Tiễn bước chân em trong chiều tháng tám
,
Mưa giăng giăng mờ mịt xám khung trời.
Chiếc lá rơi xoay tròn theo cánh gió,
Tiếc cuộc tình tan tác lúc chia phôi.

Tàu đi rồi sân ga buồn héo hắt,
Ta xa người lòng chợt thấy quạnh hiu.
Mưa vẫn rơi nhạt nhoà con phố cũ,
Bước độc hành khua phố vắng buồn thiu.

Nhịp mưa rơi gỏ điệu buồn tháng tám
,
Nỗi nhớ thương em bạc trắng mái đầu.
Ta vẫn hoài mong một lần gặp lại,
Cho những niềm riêng vơi bớt lệ sầu !

Rồi mỗi mùa
 sang mưa buồn tháng tám,
Vẫn vắng bóng em ta đợi mùa sau.
Như Ngưu-Lang hằng đêm chờ Chức-Nữ,
Nhưng chỉ riêng mình cùng với trăng sao !  - LPO              
         
======

     "
Mượn chút xúc-động từ bài thơ "Tìm nhau" của tôi, cám ơn Anh Phi-Ô đã gởi đến quí ACE và Thúy-Uyên được nghe tâm tình Anh về một nhân dáng mỹ-miều, một mối tình quá đẹp của Anh từ tuổi hoa niên.
     Vì tình không trọn nên tình đâu dể nguôi quên ! và từ đó trăm năm tình mãi đẹp ! Tôi nghĩ, hẳn Chị Ph. sẽ rất đẹp lòng khi tri nhận tình Anh...có một người dành trọn tâm hồn cho Chị suốt 50 năm dài, bao nhiêu cũng đã quá đủ châu ngọc cho trọn cuộc nhân sinh...Uyên-thúy-Lâm xin ghi lại đây một bài thơ...như một chia sẻ cùng Anh".

BIẾT ĐÂU TÌM   (Mến tặng Huynh Lê Phi Ô)

Anh tìm cả trong rừng xưa cổ tích
Anh tìm em qua trăm chốn ngàn phương
Tìm em đâu trên khắp vạn nẽo đường
Chân rảo bước mà lòng như hối hả.

Tìm nhau trên đường quê hương vạn ngã
Anh quay về sau nửa kiếp chân mây
Ngày tạ từ tay nắm lấy bàn tay
Tưởng gặp lại một ngày không xa lắm.

Vậy rồi quá nửa đời trong thinh lặng
Nhớ thương em gió bấc lạnh từng mùa
Nhớ vô vàn ngày tháng cũ tiêu sơ
Em ngự trị giữa hồn anh đằm thắm.

Trường năm cũ gốc điệp tàn quạnh vắng
Thềm rêu xanh dấu hài đã phai nhòa
Lạc loài ngay trên cả lối quen xưa
Anh đứng đợi buổi sum vầy hư ảo !

Mơ trăm năm cuộc sum vầy hư ảo !

Ph....!
Em nghe chăng đầu thôn vang tiếng pháo
Có hay anh trọn kiếp đợi tương phùng
Em về đâu giữa trời đất mênh mông
Tình xưa hỡi, còn bao giờ tương ngộ ?... - UTL


                                     ---------------
      
LỐI THU...XƯA ! 

Em có buồn không em
Vàng thu thung lũng nhớ
Em có chờ không em
Hương tình trong hơi thở.

Ngày đó mình xa nhau
Em biền biệt phương nào
Qua bao mùa lá rụng
Ta gặp nhau...chiêm bao.

Khi xưa tuổi học trò
Hai đứa cùng làm thơ
Anh chờ em trước cổng
Trao em bài tình mơ.

Bây giờ xa xôi quá
Hai đứa ở hai phương
Bài thơ tình anh gởi
Xuyên qua Thái-Bình Dương.

Thời gian không có tên
Tình yêu không có tuổi
Anh chờ em phút cuối
Em...đâu rồi - Em ơi ! -- LPO


   Chiều về chầm chậm, cánh chim trời lẻ loi bay tìm tổ ấm...cất tiếng kêu lạc lõng...chơi vơi giữa khung trời lộng gió, đám mây đen kịt xuất hiện phía chân trời báo hiệu một cơn mưa sắp tới. Bất chợt, một cảm giác lạ lùng xâm chiếm hồn tôi rồi lang nhanh khắp cùng cơ thể, tôi nghe tim mình nhói buốt. Rồi hình ảnh Ph... ập đến thật nhanh...chập chờn trước mặt, lung linh...mờ ảo. Tôi dừng xe lại một mái hiên vắng bên đường, mở cửa bước xuống...Trời cũng vừa đổ mưa. 
   Không hiểu vô tình hay cố ý, đêm nay tôi lại trú mưa dưới mái hiên dài vắng lặng - Đêm trước... ngày tôi bỏ đi, tôi đã đứng lặng lẽ dưới mái hiên dài đối diện nhà Ph. trong một đêm mưa gió cho đến khi cả xóm đều tắt hết đèn đi ngủ. Mới đó mà đã gần 60 năm, bằng một đời người rồi còn gì...nhưng sao tôi cứ tưởng như mới xảy ra hôm qua, hôm kia. Bên tai tôi vẫn còn vẳng lên tiếng cười của Ph. khi vui, tiếng khóc dỗi hờn khi tôi làm em phật ý. Bây giờ thì...  - tôi lắc đầu không dám nghĩ tiếp....!  
   Cơn mưa vừa dứt, trời cũng đã khuya. Tôi chui vào xe, mở Radio. Bài ca "Lối Thu Xưa" của Quốc-Dũng với tiếng hát ngọt ngào của cô Ca Sĩ nào đó cất lên mà tôi nghe như tiếng khóc của Ph. ! :

  - "Đời trả về cho em, sân trường xưa vàng vỏ...u sầu,"
   "Đời dìu mộng anh đi, riêng mình em xót nỗi chia lìa."
  - "Đường mộng nào anh sang, riêng mình em tựa lá...thu tàn,"
   "Biết lòng còn mãi mơ màng, em vẫn tìm anh giữa mây ngàn !" 


San Jose, một đêm mưa thật buồn...! Lê Phi Ô

May 16, 2016

Mẹ và Đời Tôi

thơ Lê-Phi-Ô

Mẹ sanh con xứ Ngũ Phụng Tề Phi *
Vùng đất Quảng-Nam địa linh nhân kiệt
Trần-quý-Cáp, Phan-chu-Trinh bất diệt
Phong trào Duy Tân soi sáng lòng dân.

Điềm báo trước tên Phi Ô - Ba đặt
Chức nữ, Ngưu lang xa cách ngàn trùng
Cầu Ô Thước có lẽ không có thật
Nên chuyện tình con gãy gánh nửa chừng.

Cha mất sớm hai mẹ con theo Chú
Vũng-Tàu, Cần-Thơ, Phan-Thiết, Vĩnh-Long
Con khôn lớn nguồn sữa tươi của mẹ
Khổ cực thân cò lặn lội bờ sông.

Con vào đời chọn màu áo nhà binh
Chuẩn úy sữa coi đội quân quyết tử
Bình-Giã, Ngãi-Giao, Xuyên-Mộc, Long-Tân
Đột kích địch an dân vùng khói lửa.

Mười hai năm con vào sinh ra tử
Nay Hàm-Tân mai Hoài-Đức, Tánh-Linh
Mẹ ở tiền đồn nuôi bầy cháu nội
Đêm từng đêm mẹ cầu nguyện âm thầm.

Võ-Đắt ba mươi ba ngày tử thủ
Xác anh em trộn lẫn xác kẻ thù
Mở đường máu băng rừng về quốc lộ
Chưa kịp đoàn viên bị bắt vào tù.

Con biệt giam tại khám lớn Chí-Hòa
Ba tháng gông cùm đòn thù nghiệt ngã
Lời mẹ dặn con một lòng một dạ
Ngẩng cao đầu trước họng súng địch quân.

Bảy năm khổ sai sức kiệt thân tàn
Tù Suối-Máu, ngục kiên giam Xuân-Phước
Đồng đội con những nấm mộ không tên
Manh chiếu rách kéo lê ra nghĩa địa.

Con ra tù sống lang thang Bà-Rịa
Gánh cá thuê, đội muối, ngủ đầu đường
Mẹ chết từ lâu mồ hoang cỏ dại
Ôm tấm bia con chỉ biết khóc thương.

Bạn bè xưa vài thằng còn sống sót
Nương tựa nhau chia sớt miếng cơm thừa
Vợ ra đi không một lời từ biệt
Con ở đâu...Ba thèm một tiếng "Thưa".

Tạ tội mẹ thương đứa con bất hiếu
Đêm vượt biên không lạy mẹ con đi
Sống hay chết giờ đây con đã hiểu
Chỉ một con đường cặp bến tự do.

Tổ Quốc ơi ! vạn lần xin tạ tội
Người lính can trường đã chết đêm qua
Quê hương con người dân đang hấp hối
Biết bao giờ đồng hát khúc hoan ca.

Con sẽ về thắp hương quỳ lạy mẹ
Cất lều tranh bên mộ mẹ cuối đời
Khi đất nước có tự do dân chủ
Cờ vàng bay phủ kín khắp muôn nơi.

Lê Phi Ô



April 15, 2016

Một Đời Lính Trận !

Ta từng có một thời làm lính trận
Súng đạn, ba-lô trĩu nặng đôi vai
Tuổi đôi mươi sá gì đời sương gió
Mộng sông hồ cho thỏa chí làm trai.

Ghìm tay súng nơi tuyến đầu lửa đạn
Ngăn bước thù gieo tang tóc đau thương
Mong quê hương nhà nhà vang tiếng hát
Cho mẹ già em gái bớt lệ vương.

Rồi từ đấy đi vào miền gió cát
Mảnh chinh y thấm máu bạn, máu thù
Có những lúc dừng chân nơi lũng thấp
Tiễn bạn mình vào chốn nghỉ thiên thu !

Đêm từng đêm dừng quân trên đất địch
Dưới chiến hào đợi giặc lúc trăng lên
Chợt một thoáng mơ về nơi phố thị
Nhớ người yêu ta thầm khẻ gọi tên !

Nhưng quê cũ vẫn một màu tang tóc
Súng đạn quân thù xé nát làng quê
Đất nước đau thương ngập tràn tiếng khóc
Lính trận ra đi, đi mãi không về.

Tháng tư đến trong nghẹn ngào uất hận
Ta vào tù biệt xứ tận biên cương
Mình mất nhau khi tàn cơn binh lửa
 cuối cùng...đánh mất cả quê hương !

Lê Phi Ô



March 09, 2016

Quốc Hận 30 tháng 04

Đất nước tôi tên gọi Việt-Nam
Hình cong chử S cạnh biển đông
Có những thời hồng trang sử Việt
Có lắm thời chinh chiến điêu linh.

Quê hương tôi dựng xây bằng máu
Máu Lê, Lý, Trần chống ngoại xâm
Máu của anh hùng Nguyễn-thái-Học
Thà đầu rơi cứu lấy non sông.

Nhiều, nhiều lắm làm sao kể hết
Gương hy sinh lẫm liệt sa trường
Nhưng chỉ có một lần duy nhất
Chỉ một lần cuối đáy đau thương.

Lần...nón cối, dép râu phản phúc
Đem xe tăng, súng đạn Nga Tàu
Dày xéo lên giang sơn Tổ Quốc
Hễ hã cười trước vạn nỗi đau !

Ba mươi tháng tư "Ngày Quốc Hận"
Ngày toàn dân Việt chít khăn tang
Có những kẻ manh tâm phản phúc
Quên "Quốc thù" hỡi lũ Việt gian !

Lê Phi Ô

February 25, 2016

TÉT và LÍNH

Đồng đội cũ trong tim buồn và nhớ
Áo nhà binh, giày trận, súng, ba-lô
Thịt ba lát, rau rừng, cơm gạo sấy
Chiều dừng quân thương em gái vô bờ.

Tết tiền đồn lương khô thay bánh mứt
Bàn thờ Cha bằng thùng đạn Pháo-binh
Bình vỏ đạn cắm đầy hoa cỏ dại
Tấm lòng con trong thời buổi đao binh.

Đêm ba mươi mượn vài chung nước lã
Thay trà thơm chờ đón phút giao mùa
Nơi quê nhà một mình ai tựa cửa
Thương quá Mẹ già ngóng đợi con xa.

Đón giao thừa quây quần trong lô-cốt
Rượu bi-đông uống cạn lãng quên đời
Tiếp tế trễ chuyền tay từng điếu thuốc
Chúc mừng nhau năm mới ấm tình người.

Đời lính chiến chẳng màng gì danh lợi
Trĩu đôi vai gánh vác nợ sơn hà
Mơ ước một ngày thanh bình muôn lối
Khắp thôn làng rộn rã khúc hoan ca.

Ta đã từng sống một thời như thế
Chí làm trai không thẹn với non sông
Xin cúi đầu tạ hồn thiêng sông núi
Sinh ra ta con cháu giống Lạc-Hồng !

Lê Phi Ô

April 08, 2015

Chiến-Sĩ Ca...!

Âm vang tiếng vọng thời trai trẻ
Bẻ súng lòng đau hận ngất trời
Quảng-Trị, Bình-Long dòng thác lũ
Đêm ngủ chập chờn vận nước trôi.

Núi biếc hành quân săn lùng địch
Đèo cao vực thẳm vượt trường sơn
Mìn bẫy, pháo thù giăng chiến địa
Gian nan thử thách vẫn không sờn.

Biên trấn hùm thiêng riêng một cõi
Khe-Sanh sạn đạo diệt tà ma
Mỗi bước giày saut sông núi gọi
Đêm kích mơ về phố thị xa.

Em nhớ chờ ta cài mái tóc
Hoa rừng hái vội lúc dừng quân
Quà tặng chiến trường hoa Lan ngọc
Thoảng hương mùa cưới nặng tình xuân.

Lương khô gạo sấy ba-lô nặng
Poncho nón sắt áo sờn vai
Xung phong diệt địch trăm trận thắng
Ngang dọc một thời thỏa chí trai.

Xưa nay chinh chiến mấy ai về...!
Ngạo nghễ bên trời chiến-sĩ ca
Nợ nước thù nhà thiên cổ hận
Một ngày phục quốc chẳng còn xa.

Lê Phi Ô

Vẫn còn tráng-sĩ bên trời hát
họa theo ý thơ Lê Phi Ô

Ô hay giữa cuộc đời phù ảo !
Bơ sữa. X.O với nhà lầu
Gái đẹp, tiền tài và xe xịn
Vẫn còn tráng-sĩ lẫn niềm đau ?

Vẫn còn gan ruột thiên thu hận ?
Thù nhà nợ nước nặng hai vai ?
Tráng-sĩ một đi không trở lại
Da ngựa bọc thây ngút ải ngoài ?

Thành Hồ* bây giờ là trộm cướp
Chân dài, tửu điếm với đại gia
Việt kiều vô số người quay lại
Hưởng vội tuổi xuân sắp sửa già.

Lắm kẻ bây giờ sợ và hèn
Chạy theo tiền bạc sống bon chen
Luồn cúi, mánh mung, lừa với bịp
Sống mòn, cam chịu kiếp con sen.

Thành Hồ* bây giờ đâu có xa
Chỉ ba mươi tiếng trở về nhà
Trên phố, Việt kiều đi đụng mặt
Gặp nhau trong quán nhậu, mát-sa ?

Ô hay giữa cuộc đời vinh nhục !
Vàng thau lẫn lộn quỷ và ma
Vẫn còn tráng-sĩ bên trời hát
Mơ "ngày phục quốc chẳng còn xa".

VH.
*thành Hồ = Sài-Gòn

January 05, 2015

TA VỀ...

Sẽ có một ngày không xa lắm
Bình minh về thắp sáng quê hương
Đất nước không còn in bóng giặc
Mẹ già em gái bớt lệ vương.

Ta về thăm lại quê Bà-Rịa
Lưu, Nguyễn Thiên-thai vẫn nhớ đời
Người xưa cảnh cũ không còn nữa
Quẩn quanh phố xá bóng chiều rơi.

Nước mắt đầm đìa trên mộ chí
Con về hồn Mẹ mãi bên con
Trăm năm chỉ một dòng sông mẹ
Vẫn chảy không ngừng với nước non.

Ta về thăm lại chiến trường xưa
Hào lũy còn trơ những gốc dừa
Tánh-Linh, Suối-Kiết hồn tử sĩ
Réo hờn theo gió xót xa đưa !

Băng rừng Biển-Lạc tìm chiến hữu
Tên khắc bằng-lăng chắc chẳng còn
Bao năm mồ lạnh không nhang khói
Hồn mãi u trầm chốn núi non !

Ta về vá lại cơ đồ rách
Một thuở cha ông đã giữ gìn
Một thuở ta liều thân cứu nước
Báo đền ơn đức của tổ tiên.

Ta về cương quyết đòi phương Bắc
Trả lại Nam Quan ải địa đầu
Cộng nô một lũ người phản quốc
Cắt đất đem dâng hiến giặc Tàu.

Ta về khơi lại dòng chính sử
Núi liền sông dân Việt một nhà *
Giũ áo một thời thân du tử
Vui cùng sông núi khúc hoan ca !

Lê phi Ô 
* mượn ý thơ "Điềm Lạ" của Trần-văn-Sơn  

December 26, 2014

Người lính ĐPQ: LÊ-PHI-Ô

Tác giả:  Người xứ Nghệ

   Rất tình cờ tôi biết được Người Lính Địa-Phương Quân Lê Phi Ô, khi đọc bài "Tử Thủ" của tác giả Hắc Điểu trên một tờ báo online. Nội dung viết về Tiểu-đoàn 344/Địa Phương, thuộc Tiểu-khu Bình-Tuy, đã cầm chân được Sư-đoàn 6 Tân lập của Việt cộng, được tăng cường một Trung-đoàn Pháo, dưới quyền chỉ-huy của Thượng Tướng VC Trần-văn-Trà, Tư lịnh Quân-khu 7, trực diện tấn công Chi-khu Hoài-Đức, thuộc trách nhiệm phòng thủ của Tiểu-đoàn 344/Địa Phương.
   
   hình Lê-Phi-Ô năm 1970

   33 ngày đêm tử thủ ở Bộ chỉ-huy Chi-khu Hoài-Đức, Tiểu-đoàn 344/ĐP quân số chỉ còn 50% hoặc it hơn. Trong khi đó Chi-khu Tánh-Linh gần đó đã thất thủ, và đơn vị tăng phái Liên-đoàn 7 Biệt-Động Quân, sau một thời gian quầng thảo với SĐ 6 Việt cộng đã lui binh. Tiểu-đoàn 344/ĐP đã đơn thương độc mã, tả xung hữu đột, đánh trả những đợt tiền pháo hậu xung bằng biển người của địch quân không cho chúng tràn ngập Bộ chỉ-huy Chi-khu Hoài-Đức. Những người Lính ĐPQ thuộc TĐ344/ĐP vào thời điểm nầy, thật sự chiến đấu trong tuyệt vọng, với tình trạng một người lính ĐPQ chống 10 thậm chí đến 20 Việt cộng với hỏa lực Pháo khủng khiếp. Nhưng với tinh thần Bảo-Quốc An-Dân hừng  hực trong mỗi người lính ĐPQ, nên niềm tin nơi họ chưa tuyệt. Và cuối cùng sự cứu viện của Sư-đoàn 18BB gồm Trung-đoàn 52/SĐ18BB từ hướng Nam đánh lên, Trung-đoàn 43/SĐ18BB từ hướng Bắc Định-Quán đánh xuống, mà nổ lực chính là Tiểu-đoàn 2/43, Tiểu-đoàn trưởng là Thiếu-tá Nguyễn-hữu-Chế "người hùng" của Sư-đoàn 18BB đã đánh tan tác các đơn vị cộng quân, giữ vững được Bộ chỉ-huy Chi-khu Hoài-Đức đã điêu tàn vì bom đạn. Người Hùng trong cuộc chiến 33 ngày đêm tử thủ, cầm chân được Sư-đoàn 6 Tân lập Việt cộng, không để cho Chi-khu Hoài-Đức thất thủ, đó là Đại-úy Lê phi Ô.
   Người Lính ĐPQ Lê phi Ô tốt nghiệp khóa 15 Trường Võ-khoa Thủ-Đức, cựu học sinh Trường công lập Phan-Bội-Châu Phan-Thiết từ năm 1955. Đáng lẽ, anh đã mang cấp bậc Thiếu-tá ngày 01 tháng 04 năm 1975, nhưng tình hình chiến sự, nên Quyết-định thăng cấp từ Bộ TTM không gởi đến được. Bạn anh, một Sĩ-quan làm việc tại Phòng Tổng-Quản-Trị Bộ TTM cũng đã cho biết thêm, lúc đó mọi phương tiện vận chuyển đều phải ưu tiên cho chiến trường. Anh cùng Tiểu-đoàn của anh với 3 Tiểu-đoàn bạn và 2 Đại-đội Trinh-Sát, đã không rút lui khi một Sư-đoàn Chính qui của Cộng sản Bắc Việt (thuộc Quân-đoàn 5 CS) được tăng cường 24 Tanks T.54 và một Trung-đoàn Pháo tiến vào Thị xã La-Gi, trong đó có Bộ Chỉ-huy Tiểu-khu Bình-Tuy, so với tương quan lực lượng có thể nói là "Châu-chấu đá Xe". Nhưng những người lính ĐPQ Tiểu-khu Bình-Tuy đã đánh một trận để đời vào đêm 23 tháng 04 năm 1975, để rồi gãy súng tan hàng...
   Cùng với vận nước nổi trôi, đã đẩy đưa anh vào những nhà tù khắc nghiệt của cộng sản, trong chính sách trả thù tàn độc nhất của những kẻ chiến thắng. Người lính ĐPQ Lê phi Ô đã từng nằm ở khám Chí-Hòa và sau đó bị đưa đến trại Trừng-Giới A20, mà lúc ở trại tù Xuyên-Mộc người viết bài nầy đã từng nghe những lời khủng bố của bọn Công-an được gọi là Cán-bộ Giáo-dục đe dọa: "Các anh cứ ngoan cố chống đối đi, chúng tôi đưa các anh tới trại Kiên Giam A20 là các anh tiêu đời". Trại Trừng-Giới A20 khủng khiếp đến chừng nào ? chúng tôi nhân dịp bài viết nầy, xin phép được nói về trại A20 qua lời kể của những người Lính bị giam giữ ở nơi đây:
   Trại Trừng-Giới A20 nằm ở thung lũng Xuân-Phước, một thung lũng tử thần, vào rồi khó có đường ra. Muốn vào tới đây, người ta phải vượt qua 60 cây số đường rừng. Nhưng tại sao lại gọi là Trại Trừng-Giới ? Thực ra không có tài liệu nào định nghĩa những trại xếp vào loại A, nhưng do quy chế với tù nhân cải tạo đặc biệt, khắc khe hơn những kiểu trại Lý-bá-Sơ hay Đầm-Đùn nên chúng tôi gọi Trại A20 là trại Trừng-Giới. Nhưng có thể mô tả một cách tổng quát một trại tù được gọi là Trại Trừng-Giới, khi nó được xử dụng để làm tan vỡ sức đề kháng tư tưởng của những người tù cải tạo cứng đầu nhất, tập trung từ những cuộc thanh lọc ở các trại giam khác. Nói tóm lại, trừ phi có những biến chuyển chính trị ngoại lai, những người tù cải tạo ở trại nầy có thể bị tù rất lâu mà không được xét tha. Những cán bộ kiểm tra Cộng sản trước khi ghi chúng tôi vào danh sách chuyển trại theo phương án 4 (thanh lọc) đã nói huỵch toẹt: "Vào đây (A20) thì có thép cũng phải chảy. Lũ chúng bay cứ gọi là rũ tù với những hồ sơ chết đi theo".
   Trại Trừng-Giới A20 rất đẹp, và nhìn qua người ta có cảm tưởng là một điểm du lịch, vườn rau, ao cá, những hàng dừa thẳng tắp, những căn buồng giam bằng gạch, mái lợp ngói đỏ, bệ nằm bằng xi-măng, nhà ăn, một phòng văn hóa với những sách Đỏ, một hội trường thênh thang với sức chứa 1,000 người. Nhưng nếp sống của tù nhân đàng sau nét đẹp khang trang nầy, là cả một địa ngục trần gian, ăn đói, làm việc khổ sai, bệnh không có thuốc, it được gặp gia-đình. Mỗi tối tù nhân phải "ngồi đồng" để phê phán nhau về lao động, bình bầu mức ăn hàng tháng, lấy của người nầy, cho người kia, gây chia rẻ cấu xé nhau trong số tù nhân. Đó là chưa kể đến buổi tối bọn cán bộ trại giam buộc tù nhân ngồi đấu tố lẫn nhau. Bọn cộng sản trại giam cài vào hệ thống ăng-ten dày đặc, và những dãy xà-lim kỷ luật, mà chúng tôi gọi là chuồng cọp cũng được dựng lên. Cán bộ an-ninh trại giam thường áp dụng chiến thuật "Ra tay trước", nghĩa là một người tù chỉ bị báo cáo "không an tâm cải tạo" sẽ phải nằm trong chuồng cọp hàng năm trời, bị cắt thực phẩm, bị cắt nước uống. Trong số những "Tù Vương" ( từ ngữ để chỉ những người bị cùm lâu nhất trong chuồng cọp), người viết bài nầy nhớ đến hai vị Linh-Mục là: Linh-Mục Nguyễn-văn-Vàng (Dòng Chúa Cứu Thế), năm 1969 lúc theo học khóa 9 Trung cấp CTCT tại Trường Đại-học CTCT Đà-Lạt, đã được nghe ngài giảng dạy về môn học "Nghệ thuật nói chuyện", ngài bị bắt khi tham gia vào một tổ chức Phục quốc, bị kết án chung thân và bị chuyển về trại giam A20, nghe những người bạn tù ở Trại tù A20 kể: ngài chết sau 3 năm bị cùm ở chuồng cọp, toàn thể người Ngài bị ghẻ lở, kể cả gương mặt, chỉ chừa đôi mắt. Linh-Mục Nguyễn-Luân, người viết biết Ngài ở trại tù Xuyên-Mộc, người tù bất khuất đã dám viết hàng chử: "Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam - Không có Độc Lập - Không có Tự Do - Không có Hạnh Phúc" trên mọi tờ khai lý lịch mà cộng sản bắt Ngài viết, sau đó bị chuyển ra trại giam A20, một số bạn tù khuyên Ngài nhẩn nhục để sống, vì cuộc đấu tranh lâu dài, sẽ cần có người như Ngài. Ngài chỉ nói: "Tôi muốn chỉ là viên gạch lót đường cho những cuộc đấu tranh sau nầy". Ngài đã về nước Thiên Đàng sau 3 năm nằm chuồng cọp.
   Với thời gian nằm chuồng cọp nhẹ nhất là nửa tháng đến một năm và nặng nhất từ 3 năm đến 5 năm bị cùm chân. Một bữa ăn trong chuồng cọp nhằm thời kỳ bị thẩm cung hay tù nhân bị "Đì", chỉ được phát 2 muổng cơm hay 3 lát khoai mì, được trộn với lượng muối đậm đặc, và 2 muổng nước nên tù nhân bị đói khát triền miên, từ ngày nầy qua ngày khác. Ngoài sự hành hạ về thể xác do cai tù chủ trương, còn có sự hành hạ của muỗi, muỗi nhiều đến nỗi mỗi người tù chúng tôi đành phải cho chúng hút máu no nê, không bay được nữa thì lăn đùng ra bệ nằm, rồi lấy tay chà để giết chúng. Cho nên khi vào chuồng cọp, phải lấy ngày làm đêm, giấc ngủ chập chờn trong thảng thốt, ăn uống thiếu thốn, ốm đau không có thuốc, sức lực tiêu tán rất mau. Để chống lại những biện pháp nầy, chỉ còn một phương pháp duy nhất: Chấp nhận phần xấu về mình, nghĩa là cầm chắc cái chết trong phòng kiên giam, khi chấp nhận cái giá nầy sẽ thấy mình thư thái, hết lo lắng, vượt qua được đói khát, vì thế người tù sống bình thản, không nghĩ gì về cái chết và sự sống nữa.
   Ngày người viết còn ở trong Ban Chấp Hành Hội CTNCT/New Orleans, trong một lần gặp ông Đào-văn-Bình Tổng Hội-trưởng Tổng-hội cựu TNCT. Ông có kể cho tôi nghe câu chuyện của Phóng viên tờ Nhật Báo Chính Luận trước năm 1975, Ký-giả Nguyễn-Tú, cũng là người tù Trại Trừng-Giới A20 về những sỉ-nhục mà người tù bị làm nhục và hành hạ:
   Thứ nhất: Theo ông (Nguyễn-Tú) thì bọn cộng sản VN còn tàn độc hơn bọn ác quỉ vì bọn chúng có khoái cảm hành hạ tù nhân. Tại trại tù A20 mỗi khi tù nhân bị kiên giam, cứ mỗi chén cơm chúng thêm vào một chén nước muối. Vì đói quá cho nên người tù vừa gạt nước mắt vừa ăn. Khi được thả ra vì quá khát nước, nên người tù cứ gục mặt xuống uống nước cống rãnh mà không sao kéo lên được. Cảnh tượng nầy giống cảnh chết khát trên sa mạc. Trong khi đó thì bọn cai tù CS thản nhiên đứng cười hô hố !
   Thứ hai: Có một điều mà thế giớp Phương Tây không sao hiểu được, là trong khi họ ra sức chống lại chế độ "Phân Biệt Chủng Tộc" ở Nam Phi, thì chính sách Phân Biệt Lý Lịch của CSVN còn tệ hại hơn rất nhiều mà họ không biết. Chủ nghĩa Phân Biệt Chủng Tộc Nam Phi chưa tinh vi và tàn khốc bằng sự sự Phân Biệt Lý Lịch Phản Động. Họ đã biến người Miền Nam thành một loài nô lệ, một thứ dân bị trị hay đúng hơn một thứ kẻ thù cần bị tiêu diệt.
   Thứ ba: Trong khi cả loài người lên án bọn diệt chủng Pol-Pot, thì người ta quên lên án tội diệt chủng khủng khiếp của bọn đao phủ Hà-Nội. Bọn Khmer Đỏ chỉ giết 1 triệu người thôi. Còn bọn CSVN sau khi chiếm được miền Nam, đã bỏ đói cả dân tộc suốt 15 năm. Hiện nay trẻ em còi cọc không lớn được, phụ nữ không có khả năng sinh nở vì thiếu dinh dưỡng hoặc bị sẩy thai liên miên, dân miền Nam đang phải đối đầu với nạn diệt chủng qui mô có toan tính, có sách lược.
   Thứ Tư: Trong lịch sử nhân loại chưa có chế độ nào tàn phá lương tâm và nhân phẩm con người bằng chế độ Cộng Sản. Hiện nay ở Việt-Nam chỉ cần một cái nhìn đểu là người ta có thể giết nhau, chỉ cần một tí tiền là cháu nội có thể lấy búa bổ lên đầu ông bà nội để cướp.
   Nói đến người tù Trại Trừng-Giới A20, chúng ta lại nghĩ đến người lãnh tụ da đen Nam Phi Nelson Mandela. Mandela ở tù 26 năm nhưng không mất vợ mất con, gia đình và Tổ Quốc của ông vẫn còn đó. Danh vọng, sự nghiệp, nhà cửa, bằng cấp, chiến hữu của ông vẫn còn đó. Chắc chắn ông không bị bỏ đói, không phải kéo cày thay trâu, ông chưa phải ăn chuột chết, gián sống, chưa phải uống nước cống rãnh, chưa bị lột trần truồng cùm chân trong chuồng cọp. Chưa ngồi trong phiên họp để chửi bới, kết tội cha ông, bạn bè, chiến hữu mình. Con gái ông chưa phải đi làm đĩ, hay đi bán dưa hấu trên sân ga, bến xe, thế mà ông được thế giới ca tụng là Tù Vương !? Nhưng còn Nguyễn-Tú, trong đó có người lính ĐPQ Tiểu-khu Bình-Tuy Lê phi Ô, và hàng trăm ngàn Quân Cán Chính VNCH thì sao ?! Họ đã mất tất cả từ vợ con, gia đình đến Tổ Quốc. Họ mất cả thân thế, dĩ vãng, bằng cấp, của cải và nhân phẩm. Họ đã trãi qua cuộc sống của loài thú vật trong địa ngục ghê rợn nhất. Để rồi khi được phóng thích, họ đã can đảm đạp lên cái chết, lên sóng nước hiểm nguy để tìm tự do. Và họ đến mảnh đất Hoa-Kỳ nầy trong âm thầm tủi nhục mà không ai biết đến họ. Nếu như có dịp gặp Mandela, tôi sẽ nói thẳng với ông ấy, là sau 26 năm ông vẫn giữ vững tinh thần chiến đấu, đó là nét đẹp tuyệt vời. Tuy nhiên những nỗi thống khổ mà ông đã chịu đựng, so với hàng trăm ngàn Tù Vương Việt-Nam sau khi mất nước thì ông chỉ là con số không !
   Sở dĩ tôi dài dòng kể lại cái khủng khiếp của những trại tù Cộng sản được dựng lên dài từ Nam ra Bắc để cầm tù Quân Cán Chính VNCH, sau khi Cộng sản cưỡng chiếm được miền Nam mà trong đó Trại Trừng-Giới hay Trại Kiên Giam A20 là một. Vì người lính ĐPQ Tiểu-khu Bình-Tuy Lê phi Ô, sau 7 năm tù đã hiên ngang bước ra từ địa ngục A20 nầy. Thế mới biết sự chịu đựng dẽo dai, sự nhẩn nhục để đợi chờ: "Ngày mai trời sẽ sáng" của những người lính, người tù khi Nước mất. Qua đến xứ người, người lính ĐPQ Lê phi Ô, không cam tâm trở thành cái bóng của quá khứ, an nhàn trong cuộc sống hiện tại. Anh muốn kể lại những chặn đường chiến đấu đầy máu lửa của thế hệ anh, những người lính can-trường chiến đấu trong cuộc chiến tranh tự vệ, chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản phương Bắc. Để con cháu tương lai được hãnh diện với quá khứ của Cha Ông chúng, tiếp tục dấn thân vào con đường đấu tranh cho một đất nước Việt-Nam tự do, dân chủ và quyền làm người của cả một dân tộc. Trong những Hồi-Ký và Tùy-Bút Chiến-Trường anh viết và tải lên trang Blog của anh, chúng tôi đọc được những dòng chử viết bằng máu và nước mắt, của 33 ngày đêm anh cùng Tiểu-đoàn 344/ĐP tử thủ quyết không cho cộng sản chiếm được BCH/Chi-khu Hoài-Đức. Anh đã sống dưới trận mưa Pháo của địch, những cuộc tấn công biển người của những con thiêu thân "sinh Bắc tử Nam". Anh đã từng chứng kiến những người lính thân yêu trong đơn vị mình, từng người, từng người một nằm xuống. Một địa ngục được quân Cộng sản dựng nên trong âm mưu cưỡng chiếm vùng đất thân yêu Hoài-Đức, Bình-Tuy nói riêng và cả nước VNCH nói chung. Thì anh, cái địa ngục trần gian A20 do bọn Cộng sản dựng lên dể hành hạ những Thiên-thần gãy cánh như anh, thì có sá gì !
   Bài viết rất thực, không phải tự vinh danh mình, người chỉ-huy của trận đánh mà anh đã vinh danh cả tập thể Quân cán Chính của Chi-khu Hoài-Đức, đặc biệt là những người "Vợ Lính". Trong một Tùy-Bút Chiến-Trường với tựa: "Chiến-Sĩ Vô Danh" với lời dẫn: - "Trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam trước họa xâm lăng của Cộng sản phương Bắc, Quân-lực VNCH đã có biết bao Anh-Hùng, Liệt-Nữ vị Quốc vong thân. Bên cạnh đó, có những hy sinh không kém hào hùng it được nhắc tới, tôi muốn nói đến những người lính không có số quân: "Vợ Lính" !"  Anh đã kể lại trận đánh có sự tham dự của những người Vợ Lính, và họ đã anh dũng hy sinh trong trận đánh nầy:

CHIẾN-SĨ VÔ DANH - (Lê phi Ô)
   "Đúng 02:00 giờ sáng ngày 09 tháng 12 năm 1974, Lính vừa đổi phiên gác thì một ánh chớp cùng tiếng nổ long trời tại hàng rào phía tây của BCH Chi-khu Hoài-Đức, nơi tuyến phòng thủ của một trung đội thuộc Đại-đội Chỉ-Huy, một trung đội của Đại-đội 3 và tiểu đội Thám-báo Tiểu-đoàn. Khói lửa, cát bụi mịt mù. Đặc-công VC đã chui vào hàng rào đặt chất nổ phá hủy nhiều lớp kẽm gai. Lập tức, tổ Thám-báo Tiểu-đoàn tung nhiều quả lựu-đạn vào vùng khói lửa, nơi vừa xảy ra tiếng nổ để ngăn chặn bọn Đặc-công cảm tử xông vào. Trong ánh chớp kèm tiếng nổ của lựu-đạn, vài tên VC chạy ngược trở ra, nhưng đã bị khẩu Đại-liên trên vọng gác đốn ngã. Những trái chiếu sáng tay và của súng cối 81 ly được phóng lên sáng rực bầu trời, tôi gọi Trung-úy Lưu-đức-Thắng (khóa 24/VBĐL) Đại-đội trưởng ĐĐ3/344 cẩn thận mặt Bắc, nơi có ngôi Chùa nhỏ sát hàng rào phòng thủ...đây cũng là đường tiến sát thuận lợi cho VC, vì chúng biết Lính không bao giờ dám mang súng đạn vào gần Chùa, dù để phục kích đêm. Trung-úy Thắng báo đã bắn hạ 2 tên địch khi chúng vào tới hàng rào phòng thủ trong cùng...mười phút sau, Thắng cho biết hàng rào đã bị cắt đứt nhiều chổ. Lập tức, tôi cho lịnh Trung-Úy Thời Đại-đội truởng ĐĐ2/344 đang bố trí quân tại trại cưa bên ngoài Chi-khu cách 500 thước về hướng Đông, đưa ngay một Trung-đội vào chiếm giữ ngôi Chùa nhỏ. Trung-đội nầy chạm súng nhẹ và Địch bỏ chạy, đây chỉ là tổ cảnh giới của Địch.                          Đây không chỉ là trận đánh đơn thuần của đơn vị Đặc-công địch, vì Đặc-công chỉ lẻn vào âm thầm, chứ không phá hàng rào nhiều chổ như vậy, bọn chúng đang chuẩn bị chiến trường cho những đơn vị lớn hơn. Đúng như tin tức Mật từ Phòng 2 Bộ TTM cho biết trước: VC mở chiến-dịch "Tánh-Linh - Hoài-Đức" để đánh chiếm 2 Quận nầy theo chiến thuật chúng gọi là "Bóc vỏ" trước khi tiến đánh Thị-xã Xuân-Lộc, nếu không thành công thì ít ra chúng cũng cầm chân được một số lớn đơn vị của ta, để dễ bề đánh chiếm Tỉnh Phước-Long.         
    Trước đây một tuần, vì áp lực địch quá nặng nên Quân-khu 3 đã tăng cường Liên-đoàn 7/BĐQ cho Chi-khu Hoài-Đức. Đơn vị BĐQ nầy đóng quân tại Gia-Huynh nằm trên Tỉnh lộ 333 về hướng Nam, và cách Bộ Chỉ-huy CK Hoài-Đức 10 cây số. Đồng thời Bộ Chỉ-huy Tiểu-khu ra lịnh cho TĐ344/ĐP của tôi rút bỏ xã Võ-Xu và các ấp nằm dọc Tỉnh lộ 335, về phòng thủ duy nhất cứ điểm Chi-khu và xã Võ-Đắt. Hoài-Đức là Quận xa nhất của Tỉnh Bình-Tuy, cách Tỉnh lỵ 80 cây số đường chim bay. Chung quanh Quận lỵ là rừng bạt ngàn, phía Đông Bắc giáp Tỉnh Lâm-Đồng toàn núi rừng của chặng cuối dãy Trường Sơn thuận lợi cho việc che dấu và tiến sát các đơn vị lớn VC mà máy bay khó phát hiện...những cuộc hành quân lục soát đã khám phá nhiều dấu vết địch cấp Trung-đoàn, tôi cho vài người lính gốc Thượng giả dạng dân làm rừng xâm nhập những vùng nghi ngờ có địch để thám sát, những người lính nầy ra đi không về !                                                                         
   Những cuộc chuyển quân lớn của Ta và Địch làm cho người dân đoán được tình hình rất nghiêm trọng, nên gồng gánh ra đi bằng nhiều phương tiện khác nhau. Đêm 24 rạng 25 tháng 12 năm 1974, Chi-khu Tánh-Linh cách Hoài-Đức 15 cây số về hướng Đông Nam thất thủ. Chi-khu Hoài-Đức suốt tuần nay bị địch pháo bằng Hỏa-tiễn 107 ly, Cối 120 ly, Cối 82 ly trung bình 500 qủa một ngày. Pháo binh ta chỉ phản pháo cầm chừng vì đạn khan hiếm. Liên-đoàn 7/BĐQ ở phía Nam cũng chạm nặng với khoảng 2 Trung-đoàn VC. Pháo đội 105 ly của Pháo-đội trưởng Nguyễn-hữu-Nhân thuộc TĐ181/PB/SĐ18BB tăng cường cho Liên-đoàn 7/BĐQ phải dời vị trí nhiều lần (Nhân là anh vợ của Lê phi Ô), cứ mỗi lần qua vị trí mới, là vị trí cũ bị địch pháo tan nát, Pháo-đội nầy bị mất 2 khẩu Đại-bác 105 ly vào tay Cộng quân. Thiết-đoàn 5 Kỵ-Binh vào tăng viện cho LĐ7/BĐQ, cũng bị thiệt hại đáng kể (2 Sĩ-quan cấp Tá bị tử thương).                                                                   
   Ban ngày bị pháo, ban đêm bị tấn công liên tục, xin Phi Cơ C123 yểm trợ và soi sáng không có...tổn thất lên cao mỗi ngày. Đang cầm máy điều động các đại-đội phản công địch thì 2 Cảnh-sát Dã chiến hớt hãi chạy đến báo: "Thưa Thẩm quyền, ông Trưởng Chi của chúng tôi bị VC bắt rồi !". Tôi tái mặt, Chi Cảnh-sát nằm ngay trong BCH/Chi-khu và cách BCH/Tiểu-đoàn của tôi 30 thước, với một Tiểu-đội CSDC, gần một Tiểu-đội Cảnh-sát sắc phục và tổ Thám-báo Tiểu-đoàn 5 người...mà bị VC bắt...?! Tôi và Thượng-sĩ Hường Thường Vụ Tiểu-đoàn, 2 anh cận vệ cùng mấy anh CSDC băng qua Chi Cảnh-sát. Việt Cộng đã đột nhập cắt BCH/Chi-khu ra làm hai vì hỏa lực nơi đây tương đối yếu. Trước khi bị anh em lính và Cảnh-sát phản công, VC khi rút lui chúng đã bắt được Đại-úy Long Trưởng Chi và 2 Cảnh-sát viên mang theo, một số lính Tiểu-đoàn và Cảnh-sát tử thương. Tôi tăng cường thêm 3 người lính của toán Hỏa Đầu vụ Tiểu-đoàn cho tuyến của Cảnh-sát (vì không còn quân). Trên đường đi lại BCH/Tiểu-đoàn, thoáng thấy một bóng người nép vội vào gốc cây xoài bên hông văn phòng Quận cách tôi 10 thước, dáng dấp khả nghi không giống như lính. Tôi ra dấu cho Thượng-sĩ Hường và một anh lính nép sát vào tường sẳn sàng yểm trợ, tôi và anh cận vệ bò về hướng cây xoài. Bóng người lạ xê dịch như muốn chạy, cả 2 chúng tôi hướng súng định bắn, bổng một trái chiếu sáng tay bùng cháy trên trời soi rỏ bóng người lạ chỉ cách tôi 3 thước, không có súng và hình như đàn bà, "Nữ Đặc-Công VC ?", vừa thoáng nghĩ trong đầu thì anh cận vệ của tôi nhảy chồm người lên tên Đặc-công, còn súng của tôi thì kê sát lưng hắn sẳn sàng bắn. Anh cận vệ bổng la lên: "Mày hả ?", anh ta quay lại tôi nói nhỏ: "Con bé Hạ, ông thầy ơi !"- Tôi quát khẽ: "Mầy làm gì ở đây ?", con bé mặt còn nguyên nét sợ hãi: "Dạ em...dạ em...!", vài quả đạn pháo nổ quá gần, chúng tôi chạy ùa vào lô-cốt kế cận, tôi hỏi lại: "Mầy làm gì ở đây ?", Thượng-sĩ Hường nói: "Mấy bửa nay nó thay thằng Xuân đi tiếp đạn cho anh em...", tôi nói như trách Thượng-sĩ Hường: "Mấy bửa nay ?! Thằng Xuân đi đâu mà nó phải đi tiếp đạn ?- "Dạ, thằng Xuân anh của nó...chết rồi !"                                 
   Tôi hụt hẫng, cổ họng có cái gì nghèn nghẹn !. Ông già Mai, ba của con bé Hạ một nông dân hiền lành sống với ruộng rẫy, thằng Đông con lớn của ông, đi lính tử trận ngoài Trung, từ đó mỗi khi đi làm rẫy, nhận được tin tức gì của VC, ông đều bí mật báo với chính quyền Quốc-Gia, bọn cơ-sở nằm vùng của VC biết được, đã chặt đầu ông ngoài rẫy với một bản án để răn đe. Thằng Xuân là lính của Tiểu-đoàn tôi...con bé Hạ không dám ở nhà một mình, nên vào đồn sống với anh nó, bây giờ thằng Xuân chết rồi...nó sẽ sống với ai ?! Tôi nói thật khẽ với Thượng-sĩ Hường, như nói với chính tôi: "Bố Hường, tạm thời Bố nuôi bé Hạ giùm tôi...để khi nào yên tôi sẽ tính sau !", Tôi quay về hầm Chỉ-huy của tôi dưới làn mưa pháo của địch.                                                        
     Sau khi Quận Tánh-Linh thất thủ, bọn VC dồn cả lực lượng cấp Sư-đoàn tấn công Liên-đoàn 7/BĐQ và Chi-khu Hoài-Đức do Tiểu-đoàn tôi tử thủ với quân số còn lại khoảng 200 người. Trước trận đánh, vì Bình-Tuy không đủ quân số nên xin tăng cường thêm 2 Tiểu-đoàn ĐPQ, Quân-khu 3 chỉ tăng cường một Tiểu-đoàn ĐPQ cho Chi-khu Tánh-Linh đến từ Long-An (TĐ335/ĐP), còn Tiểu-đoàn tôi bổ sung quân số lên trên 500 người lấy từ các Tiểu-đoàn khác trong Tiểu-khu và thêm Đại-đội 512/Trinh-sát.                                                                           
   Xác Việt cộng không ai chôn nên đã bốc mùi, xác lính chôn tạm và phủ lên một lớp Poncho, thương binh còn kẹt lại 50 người vừa nặng vừa nhẹ, vì Phòng Không VC dày đặc nên Trực-thăng không vào được để tải thương, hơn nữa phải ưu tiên cho mặt trận Phước-Long. LĐ7/BĐQ sau thời gian quầng thảo với địch quân, tổn thất đáng kể, nên được lịnh triệt thoái khỏi Hoài-Đức. Như thế, Tiểu-đoàn 344/ĐP của tôi còn lại hơn 200 người (kể cả thương binh) bị Sư-đoàn 6 VC, thêm Trung-đoàn 812 Sông Mao và 4 Tiểu-đoàn Đặc-công 18, 19, 20 và 200C (Tài-liệu của Dr. Nguyễn-đức-Phương, tác giả "Chiến-tranh Việt-Nam toàn tập"). Quân số VC từ 6 đến 8 ngàn người, bao vây tấn công ngày đêm. Thượng cấp cho tôi toàn quyền quyết định: Tử thủ hay di tản chiến-thuật. Tôi đã cho thăm dò nhiều con đường rút nhưng không thể thực hiện được, nếu lính tráng đi phải bỏ lại vợ con ! và còn thương binh nữa ?- Chúng tôi quyết định Tử thủ !.                                                                       
   Tôi liên lạc vô tuyến với 2 Đại-đội đang hoạt động bên ngoài thì, Đại-đội 1/344 do Đại-úy Trương-Kiêm làm Đại-đội trưởng đã tan hàng và mất hẳn liên lạc. Đại-đội 2/344 của Trung-úy Thời quân số còn được 36 người. Đại-đội 512/Trinh-sát của Trung-úy Đường vì áp lực địch quá mạnh phải lui lại khu vực chợ cách BCH/Chi-khu không xa. Trưa cùng ngày, Trung-úy Đường tử thương và Trinh-sát tan hàng ngay sau đó. Trước tình hình nầy, không riêng gì con bé Hạ mà các chị vợ và con của lính cũng được cấp phát súng đạn. Vợ Trung-sĩ Hảo là cô Đở (bà Mụ ở nông thôn) trở thành y tá của Tiểu-đoàn, hai tay chị lúc nào cũng dính đầy máu. Một thương binh cánh tay trái chưa đứt lìa hẳn, đã bốc mùi thối phải cắt bỏ, không có thuốc tê, với lưỡi dao cạo Chị cố lấy bình tỉnh cắt bỏ cánh tay, anh thương binh cắn răng với hai hàng nước mắt chảy liên tục vì quá đau đớn ! Tôi cố gắng an ủi từng người, anh tài xế của tôi bị gãy chân trái vì đạn pháo, thấy tôi anh ấy khóc, tôi cố an ủi: "Vết thương của anh không đến nỗi phải cưa chân đâu !", anh ấy nói trong nước mắt: " Không phải em sợ bị cưa chân, nếu được tải thương coi như chắc chắn được sống, thấy ông thầy ở lại...em thương cho ông thầy quá !". Anh ấy nghẹn lời, anh có biết đâu tôi còn nghẹn hơn anh ấy nữa ! Tình huynh đệ chi binh như thế đấy...bản thân không lo mà chỉ lo cho đồng đội. (sau ngày tôi ra tù, anh ấy biết tin, từ SàiGòn với đôi nạn gỗ và một chân...anh ấy xuống Bà-rịa thăm tôi). 
   Con bé Hạ đầu quấn khăn tang cho anh nó bằng cuộn băng vãi trắng, mặc áo trận, vai mang M16 người nó trông cứng cỏi như người lính thực thụ, mới 16 tuổi mà trông nó già dặn như người 30, 40 tuổi. Một Tiểu-đội "Nữ binh" được thành lập, đặc dưới quyền điều động và chỉ huy của Thượng-sĩ Hường, Tiểu-đội trưởng là vợ Trung-sĩ Man Ngui (người Thượng). Các toán thám sát được tung ra ngoài, nay trở về, họ cho biết, VC đông như kiến cỏ, phòng thủ dày đặc. Tiểu-đoàn không thể rút ra ngoài được, nếu mở đường máu, may lắm là sống sót không tới 1/3. 
Hôm đó VC không tấn công ban ngày mà chỉ pháo, tôi đoán đêm nay bọn chúng sẽ làm thịt chúng tôi...các thương binh còn cầm súng được đều phải ra tuyến ngoài. Các Sĩ-quan rời khỏi vị trí chỉ huy ra ngoài chiến hào cùng anh em chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, kể cả tôi. Nhưng đêm đó vẫn yên tỉnh đến lạ lùng và nghẹt thở.
   Đúng 09:00 giờ sáng ngày 04 tháng 01 năm 1975 tất cả hỏa lực đủ loại súng bọn VC bắn như vãi đậu, tiếng hò hét xung phong man rợ. Anh em chúng tôi mắt mở trừng trừng, tay để sẳn cò súng, nghiến răng...chờ giờ phút sau cùng của đời mình sẽ đến ! Bọn VC vẫn chưa xung phong, Đại-úy Đinh-quang-Chính trưởng ban 3 Tiểu-đoàn quay lại tôi la lớn: "Trung-hiếu (ám danh đàm thoại của tôi)...khoan cho lịnh bắn, tụi nó dụ cho mình hết đạn đó !", tôi gật đầu đáp nhận, không riêng gì Đại-úy Chính, mà tất cả hình như cũng hiểu như vậy. Vài lần hò hét xung phong không có kết quả, bọn Việt cộng nổi điên xung phong thật...
   Chiến-trường bây giờ là địa ngục, là máu, là thịt xương vung vãi khắp nơi...lần đầu tiên trong đời tôi nhìn thấy được địa ngục ! Trước đó chừng 20 phút, tôi nghe một giọng nói lạ trong máy truyền tin, bảo tôi cho biết tọa độ chính xác để Pháo binh yểm trợ. Việt cộng không thể gạt được tôi, tôi chửi trong máy: "Tiên sư các anh, muốn bắn thì...bắn đi, cái Quận to tổ bố không thấy sao mà còn xin tọa độ !", và sau đó không lâu, tiếng nói lạ lại vang lên trong máy AN/PRC.25: "yêu cầu Bạch-Vân cho biết tọa độ chính xác giữa Ta và Địch !" (Bạch-Vân là danh hiệu Truyền-tin Tiểu-đoàn), Tôi đáp: " Tao ở bên trong, tụi bây ở bên ngoài...muốn chơi bao nhiêu thì...cứ chơi !" Nói xong tôi cúp máy. Bọn kiểm thính của tụi nó biết cả danh hiệu Truyền tin Tiểu-đoàn, biết thì biết, tôi thầm nghĩ...giờ phút nầy bọn chúng muốn biết tên cha mẹ của tôi...tôi cũng cho luôn !
   Tôi vừa buông ống liên hợp xuống thì...tiếng kèn, tiếng hô xung phong vang dội xen kẻ với tiếng đạn pháo chát chúa, long trời lở đất. Đạn Đại- bác tung cát bụi mịt mù... hình như cả ngàn quả nổ cùng một lượt, nhưng không có quả nào lọt vào bên trong mà nổ phía bên ngoài hàng rào, nổ ngay trên tuyến của Việt cộng ! Thân xác bọn "sanh Bắc tử Nam" bị đạn pháo hất tung lên từng đợt...từng đợt. Đạn pháo nổ liên tục vào bọn cộng phỉ nghe ghê rợn hơn cả "Lệnh xé xác" trong truyện kiếm hiệp của Kim-Dung. Hơn trăm mạng người còn sống sót của chúng tôi ngẫn ngơ quên cả bóp cò súng, giương đôi mắt nhìn một màn xi-nê sống động và hay hơn cả những phim chiến tranh mà chúng tôi đã từng xem trước đây. Vì đây là cảnh thật chứ không phải trên màn ảnh, tiếng đạn Đại bác vẫn nổ liên tục trên phòng tuyến địch cho đến trưa. Xen lẫn trong tiếng nổ của đạn pháo là tiếng máy bay phản lực nghe càng lúc...càng rõ. Trên bầu trời những chiếc F5 quen thuộc xuất hiện như những Thiên Thần, tiếng đạn Đại bác vừa ngưng là những chiếc F5 chúi xuống thả từng cặp bomb Napal lên đầu giặc biến Võ-Đắt thành biển lửa. Quân tử thủ chúng tôi như tỉnh cơn mê...há hốc mồm kinh ngạc, bổng vỡ òa trong tiến reo hò ầm ỉ: "Quân tiếp viện đến...! Quân tiếp viện đến !". Đại-úy Chính trưởng ban 3 Tiểu-đoàn chạy lại phía tôi la lớn: "Sư-đoàn 18 vào tới rồi...mình sống rồi Trung-hiếu ơi !".  Tôi, Đại-úy Chính và các binh sĩ hình như tất cả chúng tôi đều ứa nước mắt ! những giọt nước mắt sung sướng lăn dài trên gò má, rồi chảy xuống chiến bào đã khô cứng vì bụi cát, đất và máu của đồng đội bao ngày. Võ-Đắt đã được hồi sinh sau 33 ngày sống trong địa ngục trần gian !!!
   Tôi đi một vòng quanh phòng tuyến, đứng nghiêm chào trên mỗi xác của đồng đội. Ôm vai hoặc nắm chặc tay những đồng đội còn sống hay bị thương để nghe niềm xúc cảm dâng trào trong tim thay cho muôn vạn lời nói ! Khi đi ngang qua một lô-cốt, thấy bé Hạ ngồi khóc, tôi hoảng hốt hỏi cô bé có bị thương không ? nó lắc đầu, rồi đưa tay chỉ xuống hầm. Tôi chui vào, nhìn thấy xác của hai chị Vợ lính nằm kề bên nhau, tay vẫn còn giữ chặc hai khẩu súng. Nhìn qua lổ châu mai, khoảng cách gần, xác của 3 tên Việt cộng bị bắn vỡ toang đầu. Nhìn lại thân xác hai chị nằm đó, như người đang ngủ say ! Tôi đứng nghiêm chào và thầm nói: "Thưa các Chị, xin các Chị hãy yên giấc ngàn thu, Tổ quốc muôn đời mãi ghi ơn các Chị ! Trong trận chiến khốc liệt để bảo vệ sự an nguy, tự do, hạnh phúc cho người dân miền Nam nói chung, đồng bào Hoài-Đức, Bình-Tuy nói riêng...sự hy sinh của các Chị sẽ được ghi vào sử sách của những người lính không có số quân, và không có cả luôn 12 tháng lương tử tuất. Các Chị đã nối bước tiền nhân, không hổ danh con cháu Bà Trưng, Bà Triệu. Tôi xin đại diện cho những người còn sống hôm nay, kính cẩn nghiêng mình trước vong linh của những Anh-Hùng Liệt-Nữ vô danh, xin ngàn thu vĩnh biệt"! Nước mắt của tôi tự dưng trào ra...Tôi bước ra khỏi hầm, với gương mặt trầm buồn, nhưng tâm tư chất chứa niềm kiêu hãnh cho một thế hệ, bất kỳ Nam hay Nữ, đã và đang cống hiến cuộc đời, và thân xác cho cuộc chiến chính nghĩa, bảo vệ sự an bình, tự do cho đất nước VNCH. Tôi ngước mắt lên nhìn trời, cảm ơn Thượng Đế đã cho tôi và các anh em binh-sĩ được sống, chiến đấu, và biết thế nào về hai chử anh-hùng trong chiến trận...và tôi, may mắn được chiến đấu bên cạnh những anh-hùng đó, những chiến-sĩ Anh-Hùng Vô Danh mang tên "Vợ Lính" !  LPO."
                                              --------------------------------------
   Trong những lần trò chuyện với anh qua email, được anh cho biết có mở riêng một trang blog để giới thiệu về những bài anh viết. Tôi đọc được 4 Hồi-Ký "Một Thời Lửa Đạn", 4 Tùy-Bút Chiến-Trường, 17 bài của Bạn bè viết cho anh và 30 bài Thơ của Anh. Có thể là rất nhỏ bé, nhưng đã trang trãi một chặng đường dài cuộc đời của "Người Lính Địa-Phương Quân Lê Phi Ô". Từ quãng đời thơ mộng lúc còn đi học, cho đến ngày cống hiến đời trai vào nghiệp chiến chinh để bảo vệ Tự-Do, Dân-Chủ, Ấm No, Hạnh-Phúc cho miền Nam Việt-Nam nói chung, và cho vùng đất thân yêu Bình-Tuy nói riêng. Và bây giờ lưu lạc trên xứ người, người lính ĐPQ Lê Phi Ô vẫn còn trăng trở với nỗi đau của Quê Hương đang trầm luân dưới chế độ độc tài Đảng trị CSVN. Chắc là anh cũng như bao người lính VNCH tự đặt cho mình một câu hỏi: Ta làm gì với quãng đời còn lại cho Quê Hương ?!
   Người viết xin cám ơn Người Lính ĐPQ: LÊ PHI Ô, từ những bài của anh tôi tìm thấy một phần đời của một thời cầm súng. Tôi trở thành người dân "Đất Biển Tình Nồng" Bình-Tuy rất muộn, nhưng tại Quê Hương thứ 3 nầy, tôi tìm thấy tình thương yêu rất mặn nồng, của người dân Bình-Tuy giành cho người lính ĐPQ trong chiến đấu, hoặc bị tù sau khi Nước mất. Và, tôi đã có câu trả lời: "Tại sao những người Lính ĐPQ lại đổ xương máu để bảo vệ vùng đất thương yêu nầy đến giây phút cuối cùng, trong đó có người Lính ĐPQ Lê phi Ô".
   
                                                                NGƯỜI XỨ NGHỆ

   (Bài đã đăng trong Nhật Báo SAIGON NHỎ nam Calif. trang Chiến-Hữu số 1463 ngày 13 tháng 05 năm 2013, Nguyệt San DIỀU HÂU Florida số tháng 07 năm 2013 và Nguyệt-San KBC) 
   Tác giả: Người xứ Nghệ (Hoa-Nguyễn)